TRANG CHỦ

ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI

HỆ THỐNG CHỮ VIẾT

  Giới thiệu chung
  Hiragana
 
Katakana
  Kanji
 

TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP
 
 
1. Gặp gỡ hàng xóm mới
  2. Căn phòng của Yota
  3. Làm quen với
  4. Gặp gỡ và trò chuyện
  5. Ngày sinh nhật
  6. Kì nghỉ cuối tuần
  7. Kế hoạch cho ngày mai
  8. Du lịch Kyoto
  9. Đi ăn nhà hàng
  10. Các ngày trong tháng
  11. Tại sạp báo
  12. Tới ngân hàng
  13. Nó ở đâu vậy?
  14. Khởi hành
  15.
Đi ngắm cảnh
  16. Tại bưu điện

 

Diễn đàn trao đổi

Liên hệ

1. Sơ lược về tiếng Nhật

(Để hiển thị được tiếng Nhật bạn phải có phông chữ tiếng Nhật. Click vào đây để download phông chữ. Copy và paste file vừa download vào thư mục C:\WINDOWS\Fonts trên máy tính của bạn)

Là ngôn ngữ duy nhất của một dân tộc sinh sống trên khắp quần đảo, tiếng Nhật là một thí dụ hiếm có của mối tương quan dân tộc-lãnh thổ-ngôn ngữ rõ nét và đơn nhất. Mặc dù có những khác nhau nhỏ giữa các tiếng địa phương nhưng xét trên toàn cục, về mặt ngôn ngữ học, có sự thống nhất ở những điểm chủ yếu. Tuy người Nhật thường cho rằng ngôn ngữ của họ khó đối với người nước ngoài, nhưng một hệ thống ngữ âm tương đối đơn giản và các quy tắc văn phạm khá linh hoạt làm cho tiếng Nhật trở thành dễ học hơn so với một số ngôn ngữ khác, ít nhất là cho mục đích hội thoại, dù chữ viết tượng hình và các dạng chữ viết khác gây khó khăn cho việc đọc và viết.

Về nguồn gốc ngữ văn của ngôn ngữ, các học giả có những nhìn nhận rất khác nhau. Một số học giả cho rằng tiếng Nhật thuộc họ Ural-Altaic ở phương Bắc cùng với tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Triều Tiên, trong khi đó một số học giả lại khẳng định rằng nó là một thành viên của họ Tây Tạng-Miến Điện hoặc Mã lai-Polynexia ở phương Nam và những người khác lại khẳng định rằng nó có xuất xứ từ sự pha trộn của cả hai.

Từ vựng tiếng Nhật đã được làm giàu bằng cách vay mượn từ các ngôn ngữ khác: của Trung Quốc thời xưa, của Bồ Đào Nha và Hà Lan trong những thế kỷ gần đây, và của các ngôn ngữ phương Tây từ thời Minh Trị khi nước Nhật tiếp xúc nhiều với thế giới phương Tây. Việc Nhật hoá đã cho ra đời nhiều từ mới từ những từ vay mượn và xu hướng này đang tăng mạnh trong những năm gần đây.

Tiếng Nhật được coi là có sự mô tả tỉ mỉ hơn các ngôn ngữ khác đối với các phạm trù như lúa gạo, thực vật, cá và thời tiết. Điều này dường như bắt nguồn từ ý thức đã ăn sâu và bền chặt về các nguồn thức ăn cần thiết để duy trì cuộc sống trong điều kiện khí hậu gió mùa. Ngược lại, những từ liên quan đến các thiên thể, đặc biệt là các vì sao lại rất ít. Người Nhật mặc dù là dân sống ở đảo nhưng lại không đi lại được trên biển bằng việc quan sát thiên văn.

Một nét nổi bật của tiếng Nhật là các hình thức biểu đạt theo cấp độ khác nhau tuỳ theo tình huống. Tiếng Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính trọng, tuỳ thuộc vào mức độ kính trọng cần thiết đối với người đối thoại, vào các dịp và các yếu tố khác. Động từ, danh từ và các từ khác thay đổi hoàn toàn hoặc một phần theo cấp độ được dùng. Kính ngữ vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong xã giao, cũng như sự khác nhau giữa từ ngữ và cách nói của nam và nữ.

Hệ thống chữ viết của Trung Quốc dường như được đưa đầu tiên vào Nhật Bản qua Triều Tiên, có thể vào khoảng thế kỷ III, sau hệ thống chữ cái Latinh được đưa vào Anh hai hoặc ba thế kỷ. Người Nhật đã chọn loại chữ viết tượng hình này để biểu đạt ngôn ngữ của mình. Điều này có thể thực hiện được vì chữ tượng hình, như tên gọi của nó, biểu hiện ý nghĩa hơn là âm thanh. Do âm của các từ tiếng Nhật không giống như âm của các từ tiếng Trung Quốc có cùng nghĩa nên cần phải xác lập phương pháp thể hiện âm tiếng Nhật. Việc này được thực hiện bằng cách tạo nên những mẫu chữ cái đơn giản trên cơ sở sao chép hoặc sửa đổi một số chữ tượng hình và gán cho mỗi chữ cái một âm cố định. Bằng cách này, hai bảng chữ cái ghi âm riêng biệt đã ra đời và hiện nay vẫn đang được sử dụng song song. Vì vậy, tiếng Nhật được viết với sự phối hợp hai kiểu ký tự khác nhau - trước tiên là chữ kanji hay là Hán tự, là những chữ tượng hình biểu đạt nghĩa, và tuỳ theo các chữ kanji ghép cùng hay yếu tố khác mà có thể có những cách phát âm khác nhau. Thứ hai là chữ kana hay các ký hiệu ngữ âm được dùng để hướng dẫn việc phát âm đúng những chữ kanji hiếm hoặc lạ, hoặc để chỉ những biến đổi về văn phạm v.v... Bảng chữ cái nét mềm hiragana phục vụ hai mục đích đầu tiên này, còn bảng chữ cái nét cứng katakana được dùng để phiên âm các từ ngoại lai. Mặc dù hệ thống chữ tượng hình có thể truyền đạt một ý nghĩa đầy đủ chỉ bằng một ký tự, nhưng điều bất tiện là cần phải có một ký tự riêng để biểu thị mỗi ý nghĩa. Vì vậy ở Nhật Bản trong thời kỳ trước chiến tranh, số ký tự được dùng phổ biến cho các mục đích hàng ngày là khoảng 4000 ký tự. Từ thời kỳ chiến tranh, để phục vụ cho giáo dục học đường và các mục đích khác, số ký tự được chính thức dạy trong chương trình giáo dục bắt buộc và dùng trong báo chí v.v... được giới hạn ở 1850 ký tự. Nhiều sách xuất bản ở nước ngoài nhấn mạnh đến khó khăn của học sinh Nhật phải học một số lượng lớn các ký tự này. Tuy nhiên, trên thực tế khi đã nắm vững những nguyên tắc cơ bản hình thành các ký tự thì việc học trở nên dễ dàng hơn là người ta tưởng.

Trước đây, tiếng Nhật với sự kết hợp giữa hai loại ký tự được viết theo cách viết chính thức từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Ngày nay, một số lớn các tài liệu cả chính thức lẫn không chính thức, đặc biệt là các tài liệu không chính thức được viết theo chiều ngang từ trái sang phải, tuy rằng báo chí và các tác phẩm văn học vẫn sử dụng kiểu viết dọc truyền thống.

 

Hệ thống âm thanh tiếng Nhật

 

Nguyên âm và âm đơn:

 Tiếng Nhật có 5 nguyên âm: あ い う え お (ア イ ウ エ オ), các âm này được phát âm có trường độ giống nhau (nếu so với nối nhạc là ’một phách’!). Các âm đơn trong bảng Hiragana và Katakana cũng có cùng trường độ, tức là ‘một phách’. 

 

Các âm や ゆ よ (ヤ ユ ヨ) thường đượckết hợp với các âm khác như cho trong bảng sau:

 

Âm ghép đoản âm

– các âm ghép trong bảng sau được phát âm có trường độ bằng các âm đơn như trong bảng Hiragana và bảng Kagakana.

 

きゃ

キャ

kya

きゅ

キュ

kyu

きょ

キョ

kyo

しゃ

シャ

sha

しゅ

シュ

shu

しょ

ショ

sho

ちゃ

チャ

cha

ちゅ

チュ

chu

ちょ

チョ

cho

にゃ

ニャ

nya

にゅ

ニュ

nyu

にょ

ニョ

nyo

ひゃ

ヒャ

hya

ひゅ

ヒュ

hyu

ひょ

ヒョ

hyo

みゃ

ミャ

mya

みゅ

ミュ

myu

みょ

ミョ

myo

りゃ

リャ

rya

りゅ

リュ

ryu

りょ

リョ

ryo

ぎゃ

ギャ

gya

ぎゅ

ギュ

gyu

ぎょ

ギョ

gyo

じゃ

ジャ

ja

じゅ

ジュ

ju

じょ

ジョ

jo

びゃ

ビャ

bya

びゅ

ビュ

byu

びょ

ビョ

byo

ぴゃ

ピャ

pya

ぴゅ

ピュ

pyu

ぴょ

ピョ

pyo

 

Nguyên âm dài

– Trong tiếng Nhật có các nguyên âm dài khi phát âm trường độ thường bằng khoảng hai lần âm đơn (những âm trong bảng Hiragana và Katakana)

 

あー

アー

aa

いー

イー

ii

うー

ウー

uu

えー

エー

ee

おー

オー

oo

 

Âm ghép trường âm (âm dài)

– các âm ghép trong bảng sau được phát âm có trường độ bằng khoảng hai lần âm đơn (tức ‘hai phách’).

 

おう

オー

oo(*)

こう

コー

koo

そう

ソー

soo

とう

トー

too

のう

ノー

noo

ほう

ホー

hoo

もう

モー

moo

よう

ヨー

yoo

ろう

ロー

roo

 

(*) Chú ý: Trong nhiều tài liệu tiếng Nhật, khi các âm dài được viết bằng chữ La Mã thường dùng dấu ngang phía trên nguyên âm như ‘ō’. Để đơn giản, tôi thay thế âm dài này bằng hai nguyên âm đứng liền nhau, về ý nghĩa thì oo tương đương với  ‘ō’, âm uu tương đương với ‘ū’.

 

Các âm dài khác:

 

きゅう

キュウ

kyuu

きょう

キョー

kyoo

しゅう

シュウ

shuu

しょう

ショー

shoo

ちゅう

チュウ

chuu

ちょう

チョー

choo

にゅう

ニュウ

nyuu

にょう

ニョー

nyoo

ひゅう

ヒュウ

hyuu

ひょう

ヒョー

hyoo

みゅう

ミュウ

myuu

みょう

ミョー

myoo

りゅう

リュウ

ryuu

りょう

リョー

ryoo

ぎゅう

ギュウ

gyuu

ぎょう

ギョー

gyoo

じゅう

ジュウ

juu

じょう

ジョー

joo

びゅう

ビュウ

byuu

びょう

ビョー

byoo

ぴゅう

ピュウ

pyuu

ぴょう

ピョー

pyoo

 

Các âm ghép với ở cuối (hai âm):

 

きゃく

キャク

kyaku

きゅく

キュク

kyuku

きょく

キョク

kyoku

しゃく

シャク

shaku

しゅく

シュク

shuku

しょく

ショク

shoku

ちゃく

チャク

chaku

ちゅく

チュク

chuku

ちょく

チョク

choku

にゃく

ニャク

nyaku

にゅく

ニュク

nyuku

にょく

ニョク

nyoku

ひゃく

ヒャク

hyaku

ひゅく

ヒュク

hyuku

ひょく

ヒョク

hyoku

みゃく

ミャク

myaku

みゅく

ミュク

myuku

みょく

ミョク

myoku

りゃく

リャク

ryaku

りゅく

リュク

ryuku

りょく

リョク

ryoku

ぎゃく

ギャク

gyaku

ぎゅく

ギュク

gyuku

ぎょく

ギョク

gyoku

じゃく

ジャク

jaku

じゅく

ジュク

juku

じょく

ジョク

joku

びゃく

ビャク

byaku

びゅく

ビュク

byuku

びょく

ビョク

byoku

ぴゃく

ピャク

pyaku

ぴゅく

ピュク

pyuku

ぴょく

ピョク

pyoku

 

Các âm ghép với ん ン :

 âm ん ン(n hoặc m) này chỉ đứng ở cuối một âm, và được phát âm giống như n hoặc m của tiếng Việt. Các âm trong bảng sau được phát âm có trường độ như âm đơn trong bảng Hiragana và Katakana.

 

あん

アン

an

えん

エン

en

かん

カン

kan

けん

ケン

ken

さん

サン

san

せん

セン

sen

たん

タン

tan

てん

テン

ten

なん

ナン

nan

ねん

ネン

nen

はん

ハン

han

へん

ヘン

hen

まん

マン

man

めん

メン

men

らん

ラン

ran

れん

レン

ren

がん

ガン

gan

げん

ゲン

gen

ざん

ザン

zan

ぜん

ゼン

zen

だん

ダン

dan

でん

デン

den

ばん

バン

ban

べん

ベン

ben

ぱん

パン

pan

ぺん

ペン

pen

 

Ví dụ, âm  được phát âm tương đương với m trong từ sau :

 

にほんばし (日本橋) đọc là Nihombashi, tên một địa danh ở Tokyoo.

 

Chú ý:

Từ này cũng là tên một địa danh ở Oosaka nhưng lại được phát âm là にっぽんばし (Nipponbashi).

 

Âm をヲ (wo) thường được phát âm một mình, không ghép với bất cứ một âm nào. Đây là một trợ từ đặc biệt trong tiếng Nhật thường đứng giữa tân ngữ và động từ như trong ví dụ sau:

 

Ví dụ:

 

田中さんはごはんを食べています。

Tanakasan wa gohan wo tabete imasu.

Anh Tanaka đang ăn cơm.

 

Phụ âm kép – trong tiếng Nhật có âm khá đặc biệt ‘phụ âm kép’ (âm ngắt) được viết bằng chữ つ ツ nhỏ hơn bình thường như sau :

 

Ví dụ:

 

学期(がっき)        gakki   học kì

切符(きっぷ)        kippu   vé (tàu, máy bay)

切手(きって)        kitte     tem

カット                   katto    cắt (từ tiếng Anh ‘cut’)

 

Dấu thường được dùng để chỉ âm dài như trong các vị dụ sau:

Ví dụ:

 

プール                        bể bơi (pool)

ラーメン                    mì

コンピュータ            máy tính (computer)

 

Trọng âm:

từ tiếng Nhật cũng có trọng âm, khi trọng âm khác nhau thì nghĩa cũng khác nhau. Nếu các từ cùng âm khác trọng âm được viết bằng chữ Hán thì chữ Hán khác nhau như trong ví dụ sau:

 

Ví dụ:

 

し(箸) : hashi, trọng âm rơi vào âm thứ nhất, có nghĩa là ‘chiếc đũa’

(橋) : hashi, trọng âm rơi vào âm thứ hai, có nghĩa là ‘cái cầu’

 

Biến âm của :  trong câu tiếng Nhật, (ha) là một trợ từ và thường được phát âm thành (wa):

 

Ví dụ:

わたし日本語を習います。

Watashi wa Nihongo wo naraimasu.

Tôi học tiếng Nhật.

 

Biến âm của : trong câu tiếng Nhật, (he) là một trợ từ và thường được phát âm thành  (e):

 

Ví dụ:

(わたしは)** 学校行きます。

(Watashi wa)** gakkoo e ikimasu.

Tôi đi học.

 

(**) Chú ý:

 trong tiếng Nhật, khi nói người Nhật thường lược bớt chủ ngữ (đại từ nhân xưng) đi, nghĩa là người Nhật thường tránh nói chủ ngữ trong khi giao tiếp. Họ chỉ nói chủ ngữ khi tránh hiểu nhầm. Đây là một nét khác rất đặc biệt của tiếng Nhật so với ngôn ngữ khác như tiếng Việt hoặc tiếng Anh khi nói nhất thiết phải dùng chủ ngữ.

 


Về đầu trang

(nguồn http://vietsciences.free.fr)

 

 

© 2006 - Bản quyền thuộc VIETSENS EDUCATION
® Ghi rõ nguồn "VietSens" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.