|
1. Sơ lược về tiếng Nhật
(Để hiển thị
được tiếng Nhật bạn phải có phông chữ tiếng Nhật.
Click vào đây để
download phông chữ.
Copy và paste file vừa download vào thư mục
C:\WINDOWS\Fonts
trên máy
tính của bạn)
Là ngôn ngữ duy
nhất của một dân tộc sinh sống trên khắp quần đảo,
tiếng Nhật là một thí dụ hiếm có của mối tương quan
dân tộc-lãnh thổ-ngôn ngữ rõ nét và đơn nhất. Mặc dù
có những khác nhau nhỏ giữa các tiếng địa phương
nhưng xét trên toàn cục, về mặt ngôn ngữ học, có sự
thống nhất ở những điểm chủ yếu. Tuy người Nhật
thường cho rằng ngôn ngữ của họ khó đối với người
nước ngoài, nhưng một hệ thống ngữ âm tương đối đơn
giản và các quy tắc văn phạm khá linh hoạt làm cho
tiếng Nhật trở thành dễ học hơn so với một số ngôn
ngữ khác, ít nhất là cho mục đích hội thoại, dù chữ
viết tượng hình và các dạng chữ viết khác gây khó
khăn cho việc đọc và viết.
Về nguồn gốc ngữ văn của ngôn ngữ, các học giả có
những nhìn nhận rất khác nhau. Một số học giả cho
rằng tiếng Nhật thuộc họ Ural-Altaic ở phương Bắc
cùng với tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Triều Tiên, trong khi
đó một số học giả lại khẳng định rằng nó là một
thành viên của họ Tây Tạng-Miến Điện hoặc Mã
lai-Polynexia ở phương Nam và những người khác lại
khẳng định rằng nó có xuất xứ từ sự pha trộn của cả
hai.
Từ vựng tiếng Nhật đã được làm giàu bằng cách vay
mượn từ các ngôn ngữ khác: của Trung Quốc thời xưa,
của Bồ Đào Nha và Hà Lan trong những thế kỷ gần đây,
và của các ngôn ngữ phương Tây từ thời Minh Trị khi
nước Nhật tiếp xúc nhiều với thế giới phương Tây.
Việc Nhật hoá đã cho ra đời nhiều từ mới từ những từ
vay mượn và xu hướng này đang tăng mạnh trong những
năm gần đây.
Tiếng Nhật được coi là có sự mô tả tỉ mỉ hơn các
ngôn ngữ khác đối với các phạm trù như lúa gạo, thực
vật, cá và thời tiết. Điều này dường như bắt nguồn
từ ý thức đã ăn sâu và bền chặt về các nguồn thức ăn
cần thiết để duy trì cuộc sống trong điều kiện khí
hậu gió mùa. Ngược lại, những từ liên quan đến các
thiên thể, đặc biệt là các vì sao lại rất ít. Người
Nhật mặc dù là dân sống ở đảo nhưng lại không đi lại
được trên biển bằng việc quan sát thiên văn.
Một nét nổi bật của tiếng Nhật là các hình thức biểu
đạt theo cấp độ khác nhau tuỳ theo tình huống. Tiếng
Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc
kính trọng, tuỳ thuộc vào mức độ kính trọng cần
thiết đối với người đối thoại, vào các dịp và các
yếu tố khác. Động từ, danh từ và các từ khác thay
đổi hoàn toàn hoặc một phần theo cấp độ được dùng.
Kính ngữ vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong xã
giao, cũng như sự khác nhau giữa từ ngữ và cách nói
của nam và nữ.
Hệ thống chữ viết của Trung Quốc dường như được đưa
đầu tiên vào Nhật Bản qua Triều Tiên, có thể vào
khoảng thế kỷ III, sau hệ thống chữ cái Latinh được
đưa vào Anh hai hoặc ba thế kỷ. Người Nhật đã chọn
loại chữ viết tượng hình này để biểu đạt ngôn ngữ
của mình. Điều này có thể thực hiện được vì chữ
tượng hình, như tên gọi của nó, biểu hiện ý nghĩa
hơn là âm thanh. Do âm của các từ tiếng Nhật không
giống như âm của các từ tiếng Trung Quốc có cùng
nghĩa nên cần phải xác lập phương pháp thể hiện âm
tiếng Nhật. Việc này được thực hiện bằng cách tạo
nên những mẫu chữ cái đơn giản trên cơ sở sao chép
hoặc sửa đổi một số chữ tượng hình và gán cho mỗi
chữ cái một âm cố định. Bằng cách này, hai bảng chữ
cái ghi âm riêng biệt đã ra đời và hiện nay vẫn đang
được sử dụng song song. Vì vậy, tiếng Nhật được viết
với sự phối hợp hai kiểu ký tự khác nhau - trước
tiên là chữ kanji hay là Hán tự, là những chữ tượng
hình biểu đạt nghĩa, và tuỳ theo các chữ kanji ghép
cùng hay yếu tố khác mà có thể có những cách phát âm
khác nhau. Thứ hai là chữ kana hay các ký hiệu ngữ
âm được dùng để hướng dẫn việc phát âm đúng những
chữ kanji hiếm hoặc lạ, hoặc để chỉ những biến đổi
về văn phạm v.v... Bảng chữ cái nét mềm hiragana
phục vụ hai mục đích đầu tiên này, còn bảng chữ cái
nét cứng katakana được dùng để phiên âm các từ ngoại
lai. Mặc dù hệ thống chữ tượng hình có thể truyền
đạt một ý nghĩa đầy đủ chỉ bằng một ký tự, nhưng
điều bất tiện là cần phải có một ký tự riêng để biểu
thị mỗi ý nghĩa. Vì vậy ở Nhật Bản trong thời kỳ
trước chiến tranh, số ký tự được dùng phổ biến cho
các mục đích hàng ngày là khoảng 4000 ký tự. Từ thời
kỳ chiến tranh, để phục vụ cho giáo dục học đường và
các mục đích khác, số ký tự được chính thức dạy
trong chương trình giáo dục bắt buộc và dùng trong
báo chí v.v... được giới hạn ở 1850 ký tự. Nhiều
sách xuất bản ở nước ngoài nhấn mạnh đến khó khăn
của học sinh Nhật phải học một số lượng lớn các ký
tự này. Tuy nhiên, trên thực tế khi đã nắm vững
những nguyên tắc cơ bản hình thành các ký tự thì
việc học trở nên dễ dàng hơn là người ta tưởng.
Trước đây, tiếng Nhật với sự kết hợp giữa hai loại
ký tự được viết theo cách viết chính thức từ trên
xuống dưới, từ phải sang trái. Ngày nay, một số lớn
các tài liệu cả chính thức lẫn không chính thức, đặc
biệt là các tài liệu không chính thức được viết theo
chiều ngang từ trái sang phải, tuy rằng báo chí và
các tác phẩm văn học vẫn sử dụng kiểu viết dọc
truyền thống. |